Trang chủ ĐHQGHN |   Trang nhất
 
Ngày 17 Tháng 9 Năm 2019    Số người truy cập: 114162
Theo dòng lịch sử 100 năm
- Lịch sử Đại học Quốc gia Hà Nội
- Thành tựu 100 năm
Tin tức & Sự kiện
Các hoạt động kỷ niệm 100 năm
- Kỷ niệm 50 năm Trường Đại học Khoa học tự nhiên
Con người & Sự kiện
- 100 chân dung - Một Thế kỷ Đại học Quốc gia Hà Nội
- Chân dung Nhà giáo
- Những gương mặt trẻ tiêu biểu
Tư liệu
Diễn đàn Hà Nội về GDĐH Thế kỷ XXI
Hướng dẫn đăng ký cựu sinh viên, cán bộ và đăng nhập diễn đàn
Tâm sự về ngôi trường 100 tuổi
 
Người thầy nghệ sĩ GS. Hoàng Như Mai

Nhiều thế hệ học trò Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Quốc gia Hà Nội) còn nhớ như in hình ảnh một thầy giáo có mái đầu bạc như cước được vuốt gọn úp ra sau gáy, đôi mắt sáng nhưng lại rất đỗi hiền từ, giọng nói trầm ấm, rất vang và rất sang khi giảng bài: Đó là thầy Hoàng Như Mai.

Con người thầy, mới gặp, ai cũng nghĩ đó là một nghệ sĩ. Tôi còn nhớ một kỷ niệm khó phai trong đời học sinh bậc đại học: Dạo đó Khoa Ngữ văn vừa từ nơi sơ tán (làng La Khê, Hà Đông) chuyển về khu Mễ Trì (trên đường Lương Thế Vinh bây giờ). Giờ Văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám 1945, thầy dạy 3 tiết cuối, bài giảng về thơ kháng chiến 1946 - 1954. Lúc đó đã 11 giờ, gần tan buổi học. Sinh viên khu Ký túc xá Mễ Trì kéo nhau xuống bếp ăn tập thể, nhiều người vừa đi vừa gõ thìa vào bát lanh canh. Bỗng dưng nhiều sinh viên Khoa Lịch sử dừng lại bên cửa sổ lớp học Văn năm thứ ba. Thầy Hoàng Như Mai đang giảng bài thơ "Tây Tiến" của Quang Dũng. Giọng thầy trầm bổng, lúc hùng hồn lúc tha thiết, xúc động và lắng sâu. Cả thầy và trò quên mệt, quên đói, quên cả thời gian trôi nhanh vào phút chót, giờ chót buổi học. Câu thơ cuối của bài thơ, sau khi đọc và bình xong, hai tay thầy vẫn giơ lên như một nhạc trưởng đang bắt nhịp một bài hát. Rồi bỗng oà lên, rồi xuýt xoa, rồi hể hả trong đám học trò. Hôm đó tại nhà bếp Ký túc xá Mễ Trì, sinh viên hai khoa Văn - Sử cứ nấn ná mãi bên những bàn ăn đã được dọn sạch từ lúc nào, họ mải mê bình luận về bài giảng tuyệt vời của thầy Hoàng Như Mai.

GS. Hoàng Như Mai đã sống qua thế kỷ XX - một thế kỷ đầy những biến cố đáng nhớ, anh hùng và hào sảng - qua thời kỳ đổi mới và bước sang thập niên đầu của thế kỷ XXI với vận hội mới của cả dân tộc và mỗi người Việt Nam. Sống nhiều, trải nghiệm và cảm xúc nhiều, con người thầy vì thế mà lịch lãm, tự tại cộng thêm cái chất nghệ sĩ bẩm sinh, vì thế mà thầy hào hoa, phóng khoáng. Gặp thầy, cảm giác đầu tiên là sự tin cậy, đồng cảm và chia sẻ. Là một trong những học trò của thầy nên tôi thấy thầy là người toả sáng trên nhiều lĩnh vực: đào tạo, nghiên cứu, hoạt động văn hoá - xã hội.

Trước hết, thầy Hoàng Như Mai là một nhà giáo chân chính. Thầy vào nghề dạy học từ năm 29 tuổi (1948) và 42 năm theo đuổi, cống hiến tận tâm tận lực cho sự nghiệp "trồng người". Tháng 8.1948, Tỉnh bộ Việt Minh tỉnh Thái Bình chủ trương thành lập một trường chuyên khoa tư thục để thu nhận học sinh địa phương và học sinh từ các nơi khác tản cư về Thái Bình (lúc đó tỉnh chưa bị quân Pháp đánh chiếm). Đa số giáo viên của trường lúc đó là trí thức, văn nghệ sĩ nên tổ chức muốn tìm một người có thực tế dạy học và hoạt động văn hoá - xã hội làm Hiệu trưởng. Hoàng Như Mai được đề cử làm Hiệu trưởng trường Phan Thanh từ tháng 9.1948 đến đầu năm 1950. Đầu năm 1950, quân Pháp đánh chiếm tỉnh Thái Bình, vì vậy, Trường Phan Thanh không hoạt động được, học sinh một số tản cư tới nơi khác, một số xung phong vào bộ đội, du kích. Sau sự kiện này, thầy lên Việt Bắc và nhận công tác tại Bộ Quốc gia Giáo dục (lúc đó đóng ở Phú Thọ). Lúc đầu, thầy làm ở phòng chuyên môn (phòng 3), sau đó được cử làm Thư ký Trại Tu thư. Tháng 9.1950, Bộ Quốc gia Giáo dục thành lập một trường Sư phạm (đặt tại tỉnh Bắc Thái), lấy tên là Trường Sư phạm Việt Bắc (hệ sơ cấp). Thầy được Bộ Quốc gia Giáo dục điều động về dạy học và sau đó được cử làm Hiệu trưởng. Sau chiến thắng Biên giới (1950), Bộ Quốc gia Giáo dục chuyển mấy trường Sư phạm sang một địa điểm mới, có tên là Khu học xá Việt Nam (đặt ở Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc). Năm 1953, các trường Sư phạm ở Khu học xá Việt Nam được tổ chức lại thành 3 trường: Trường Sư phạm Cao cấp (đào tạo giáo viên cấp 3), Trường Sư phạm Trung cấp Xã hội (đào tạo giáo viên cấp 2 các môn khoa học xã hội) và Trường Sư phạm Trung cấp Tự nhiên (đào tạo giáo viên cấp 2 các môn khoa học tự nhiên). Thầy Hoàng Như Mai được cử làm Hiệu trưởng Trường Sư phạm Trung cấp Xã hội.

Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (1954) và tiếp quản Thủ đô (10.1954), các trường Sư phạm ở Khu học xá Việt Nam chuyển từ Trung Quốc về Hà Nội. Lúc này hai Trường Sư phạm Trung cấp Tự nhiên và Xã hội được sát nhập thành Trường Sư phạm Trung cấp Trung ương (đào tạo giáo viên cấp II). Thầy Hoàng Như Mai được cử làm Phó hiệu trưởng rồi Hiệu trưởng từ năm 1956 đến năm 1959. Từ năm 1959, thầy được điều động về làm cán bộ giảng dạy tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, đến khi hai trường được tách ra thầy về dạy tại Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1960 - 1980).

Năm 1980, thầy Hoàng Như Mai được Bộ Đại học điều động vào công tác tại Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh. Năm 1990, thầy nghỉ hưu ở tuổi 71.

Với những công lao to lớn đóng góp vào sự nghiệp giáo dục của nước Việt Nam DCCH và CHXHCN Việt Nam, thầy Hoàng Như Mai được phong học hàm Giáo sư năm 1984 và được tặng danh hiệu cao quý - Nhà giáo nhân dân năm 1990.

Từ năm 1980 đến năm 2000, GS.NGND Hoàng Như Mai đã hướng dẫn 15 nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ, 15 học viên cao học bảo vệ luận văn thạc sĩ và nhiều khoá luận tốt nghiệp của sinh viên ngành Văn chương.

Đối với một nhà giáo ở bậc đại học, giảng dạy và nghiên cứu là hai nhiệm vụ lớn, song song. GS.NGND Hoàng Như Mai tuy bận rộn lên lớp và hoạt động văn hoá xã hội nhưng vẫn dành thời gian nghiên cứu văn hoá, văn học. Thầy là tác giả và đồng tác giả của nhiều công trình có chất lượng khoa học cao và được dư luận đánh giá tốt, như: "Văn học Việt Nam 1945 - 1960" (viết chung, 1961), "Nhà soạn kịch - cải lương Trần Hữu Trang" (viết chung, 1968), "Giới thiệu sân khấu cải lương" (1986), "Thơ một thời" (bình thơ, 1989), "Hồi ức và suy nghĩ về văn hoá giáo dục", (1998), "Chân dung và tác phẩm" (1999)…

GS.NGND Hoàng Như Mai còn là chủ nhiệm các công trình khoa học do các ban, ngành thành phố Hồ Chí Minh quản lý. Có những người mà năng lực toả rạng trên nhiều lĩnh vực và đều có những thành công không nhỏ và ông là một trong số đó. Thầy là một nhà giáo chân chính. Những ai gần gũi thầy sẽ kính phục và ngưỡng mộ thầy với tư cách là một nghệ sĩ, một nhà hoạt động văn hoá - xã hội. Đỗ tú tài Ban Triết năm 1939, rồi vào học Cao đẳng Y khoa được 1 năm thì chuyển sang học Cao đẳng Luật khoa nhưng không thi lấy bằng mà tiếp tục tự học, viết báo, viết sách. Cách hành xử như vậy, trước Cách mạng tháng Tám (1945) người ta thường thấy ở những người thuộc mẫu hình "lãng tử" "nghệ sĩ", không phải là hiếm. Thầy Hoàng Như Mai tham gia Hội truyền bá Quốc ngữ và hoạt động trong phong trào Thanh niên ở tỉnh Hải Dương (9.1943 - 3.1945). Thầy tham gia Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội, có mặt tại cuộc mít tinh lịch sử ngày 2.9.1945 trên Quảng trường Ba Đình trong khối trí thức, văn nghệ sĩ. Tháng 4.1946, thầy tham gia đoàn quân Nam tiến, hoạt động trong lĩnh vực văn hoá - văn nghệ: Cùng bạn bè thành lập đoàn kịch tuyên truyền, lấy tên là Đoàn kịch Độc Lập. (Giấy phép hoạt động do Bộ trưởng Bộ Thông tin - Tuyên truyền Trần Huy Liệu cấp). Đoàn kịch Độc Lập khai trương ở Huế rồi tiếp tục lưu diễn ở các tỉnh thành, thị trấn vùng Nam Trung Bộ. Những vở diễn của Đoàn kịch Độc Lập thu hút nhiều người xem với nội dung yêu nước, với nhiệt tình diễn xuất của các diễn viên không chuyên. Khi Đoàn kịch Độc Lập vào đến Phú Yên thì toàn quốc kháng chiến, trước tình hình và nhiệm vụ mới, lãnh đạo tỉnh Phú Yên tổ chức lại Đoàn kịch thành đội tuyên truyền - vũ trang, hoạt động ở vùng Nam Trung Bộ. Một thời gian sau đoàn kịch được chuyển ra miền Bắc.

Giữa năm 1947, thầy Hoàng Như Mai tham gia vận động thành lập Hội Văn hoá Kháng chiến tỉnh Hưng Yên, đảm nhận chức Tổng Thư ký và đặc trách đoàn kịch mang tên Đoàn kịch Văn hoá Kháng chiến (của tỉnh Hưng Yên). Thời gian này thầy sáng tác một số vở kịch như "Tiếng trống Hạ Hồi" (về cuộc tấn công đại phá quân Thanh của người anh hùng áo vải Quang Trung - Nguyễn Huệ); "Sát thát" (về cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông); "Người tù binh" (về cuộc kháng chiến chống Pháp)...

Năm 1948, quân Pháp đánh chiếm tỉnh Hưng Yên, Đoàn kịch Văn hoá kháng chiến chuyển địa bàn hoạt động sang tỉnh Thái Bình với sự bảo trợ của Tổ chức Văn hoá kháng chiến khu III.

Sau 1954, thời kỳ sống và làm việc ở Hà Nội, thầy Hoàng Như Mai ngoài công việc giảng dạy ở đại học vẫn hoạt động văn hoá - xã hội: Là Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc thành phố Hà Nội (2 khoá), là cộng tác viên tích cực của Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài CP-90 (của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam - Chính phủ lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam), chuyên viết về các vấn đề văn hoá - xã hội. Thầy còn là diễn giả văn học của các câu lạc bộ ở Hà Nội và một số tỉnh thành. Những buổi nói chuyện văn chương, nghệ thuật của thầy thường rất đông khán, thính giả. Tôi biết trong lĩnh vực này, thời đó chỉ có một số "kiện tướng" như Hoài Thanh, Xuân Diệu, Hoàng Như Mai, Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ. Bởi vì như người ta nói là phải có "khoa nói", phải "lợi khẩu". Nhưng cái nền tảng văn hoá mới là quyết định, nhất là diễn thuyết trước đám đông lúc nào cũng khó tính và thông minh (như các thành viên của câu lạc bộ Thăng Long chẳng hạn). Từ năm 1980, chuyển vào sống và làm việc ở thành phố Hồ Chí Minh, ngoài công việc dạy học tại Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, thầy tuy đã ngoài "lục tuần" vẫn đầy nhiệt huyết vì sự nghiệp văn hoá - xã hội - giáo dục. Thầy là giáo viên thỉnh giảng văn học ở Trường Cao cấp Phật giáo (nay là Học viện Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh). Với uy tín của mình, thầy được bầu làm Chủ tịch Hội Nghiên cứu và giảng dạy Văn học thành phố Hồ Chí Minh (4 khoá). Thầy có một sức làm việc hơn người trong nhiều công tác khác nhau: Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc thành phố Hồ Chí Minh (3 khoá), Uỷ viên Hội đồng Khoa học Xã hội thành phố Hồ Chí Minh (từ khi thành lập đến nay), Uỷ viên Ban Chấp hành Liên hiệp Các hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh (3 khoá), Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Khuyến học thành phố Hồ Chí Minh (2 khoá).

Thầy Hoàng Như Mai nghỉ hưu năm 1990. Nghỉ hưu nhưng không nghỉ làm việc. Những người hoạt động trong các ngành văn hoá - xã hội và giáo giới thành phố mang tên Bác vẫn hay gặp một ông già dẫu là 70, rồi 80 tuổi vẫn "xông pha" trên nhiều mặt trận. Thầy được mời làm Hiệu trưởng danh dự Trường Đại học Dân lập Văn Hiến và là Hiệu trưởng trường Tư thục Trung học Trương Vĩnh Ký tại thành phố Hồ Chí Minh. Tuy đã 26 năm định cư ở thành phố miền Nam nhiều nắng gió, thành phố được gọi là "hòn ngọc Viễn Đông", thầy Hoàng Như Mai vẫn có "một cõi đi về": Hà Nội. Sống ở thành phố Hồ Chí Minh nhưng lòng lúc nào cũng "Thương nhớ mười hai" như tâm thế của nhà văn Vũ Bằng trước đây vì nhiệm vụ của Cách mạng mà xa quê hương, dấn thân vào hiểm nguy với nhiệm vụ của một điệp báo viên quân đội. Thi thoảng có dịp ra Hà Nội, thầy vẫn tạo cơ hội để được gặp gỡ đồng nghiệp. Tôi gặp thầy lần gần nhất vào năm 1999 - khi thầy 80 tuổi, từ thành phố Hồ Chí Minh ra cùng với thầy Nguyễn Lộc - một trong những chuyên gia hàng đầu về Văn học trung đại Việt Nam. Thầy vẫn nhanh nhẹn, mẫn tiệp không kém gì người đồng nghiệp kém mình đến những 15 tuổi. Thầy trò chúng tôi ngồi trong quán Palôma ở phố Lý Thường Kiệt. Trong khung cảnh yên tĩnh, câu chuyện cởi mở đến độ tri ân tri kỷ. Thầy hỏi tôi về công việc, về đời sống riêng, về dự định cho tương lai. Rồi thầy kể chuyện về thành phố không có mùa đông, về hoa mai vàng, về những cơn mưa chợt đến, chợt đi...

Yêu đời, yêu người, yêu công việc và cần phải bình tĩnh, tự tại làm việc hết sức mình - đó là những gì tôi và thế hệ hậu sinh học được rất nhiều ở thầy Hoàng Như Mai. "Vì sự nghiệp mười năm trồng cây, vì sự nghiệp trăm năm trồng người", lời dạy của Bác Hồ được hàng vạn thầy, cô giáo dốc toàn tâm toàn sức thực hiện. Trong đội ngũ đông đảo những người làm nghề "trồng người", thầy Hoàng Như Mai là một trong những người đi hàng đầu./.

Bùi Việt Thắng
[100 Years-VietNam National University,HaNoi]
Các bài liên quan
» Thầy tôi - tiểu khúc thứ ba, những điều chưa nói
» Người khai thác những mỏ vàng lộ thiên từ cuộc sống
» Nguyễn Phan Chánh - Người xây nền cho tranh lụa Việt Nam
» GS. Đào Duy Anh, Nhà sử học và văn hóa lớn
» GS.TSKH.NGND Đào Huy Bích - Chuyên gia hàng đầu về Cơ học Vật rắn biến dạng
» Ngô Bảo Châu và vinh quang toán học
» Phác họa chân dung một nhà vật lý thực nghiệm
» Nhà ngôn ngữ học lao động không mệt mỏi
» Cù Huy Cận - Người suốt đời gắn bó với cách mạng và thơ
» GS.VÕ QUÝ:
“Được nhận giải thưởng Hành tinh xanh là một vinh dự lớn đối với tôi”
» GS. Cao Xuân Huy, nhà sư phạm, nhà tư tưởng uyên bác, cây cổ thụ của cánh rừng văn hóa phương Đông
» Triết gia lữ hành Trần Đức Thảo
» Cố NGND.GS Nguyễn Thạc Cát - Nhà hóa học tài đức vẹn toàn
 Tin tức qua ảnh
 Tiêu điểm
 Các liên kết
 Thư viện ảnh

Copyright 2004-2019 Đại học Quốc gia Hà Nội
Thông tin toà soạn
Địa chỉ : 144 - Đường Xuân Thủy - Cầu Giấy - Hà Nội.    Email : bantin@vnu.edu.vn